Sự khác nhau giữa Đông y và Tây y

0
129

Sự khác biệt trong chữa bệnh của Đông Y và Tây Y qua góc nhìn của người trong cuộc

Sự khác nhau giữa Đông y và Tây y

Đông y dưới góc nhìn của một bác Sỹ Tây y

Kính thưa quý vị, một hôm, có một bệnh nhân đến phòng mạch, yêu cầu chúng tôi thử máu tổng quát. Là bác sĩ, trước khi thử máu thì cần phải biết tại sao bệnh nhân có yêu cầu này, vì nhiều khi bệnh nhân có những căn bệnh mà cuộc thử nghiệm tổng quát không phải là thử nghiệm thích hợp nhất. Sau khi được hỏi bệnh cẩn thận, bệnh nhân dứt khoát là không bị bệnh gì cả, chỉ muốn khám nghiệm tổng quát. Thấy bệnh nhân trong độ tuổi giữa 45 và 49, cũng là tuổi mà bộ y tế muốn các BS làm một cuộc khám nghiệm tổng quát, chúng tôi đồng ý cho bệnh nhân thử máu.

Thật tình cờ, khi kết quả trở về thì cho thấy bệnh nhân bị suy gan khá trầm trọng. Tất nhiên tiếp theo đó những thử nghiệm khác được tiến hành, để tìm hiểu thêm nguyên nhân của sự suy gan, mà người Việt mình thường gọi là nóng gan, như thử các bệnh viêm gan do siêu vi khuẩn gây ra, siêu âm gan, và hỏi lại thật cặn kẻ việc ăn uống cùng thuốc men của bệnh nhân. Nên biết, rượu hay thuốc làm giảm mỡ (cholesterol) cũng thường là nguyên nhân làm cho “nóng gan”.

Kết quả là không một nguyên nhân nào được tìm thấy, nhưng chính trong lần khám nghiệm thứ ba này, bệnh nhân tiết lộ đang dùng thuốc Bắc, mặc dù trong những lần khám nghiệm trước, đã được hỏi về những thuốc men mà bệnh nhân sử dụng. Sau một thời gian ngưng uống liều thuốc Bắc này, gan bệnh nhân trở lại bình thường.

Kính thưa quý vị, chúng tôi lớn lên ở VN, tuy không học qua Ðông y, nhưng cũng nghe lõm bõm về khái niệm âm dương ngũ hành, thổ sinh kim, thủy khắc hỏa ..

Khi ở VN thì chúng tôi học 4 năm đại học ngành hóa học, thấy người Tây phương chia vạn vật ra làm hàng tỉ tỉ hợp chất khác nhau, mà thành phần đơn chất căn bản để cấu tạo nên những hợp chất này là nguyên tố, như oxygen, carbon, sắt, đồng, nitrogen vân vân. Té ra đời không thể nhìn đơn giản với kim mộc thủy hỏa thổ mà đủ (quan niệm của Hy Lạp cách đây mấy ngàn năm cũng tương tự như vậy, nhưng nay người ta đã tiến rất xa rồi).

Khi sang Úc, học ngành y, thì chúng tôi được biết thêm cách thức Tây phương nghiên cứu thuốc men.

Xin được vắn tắt về cách Tây y nghiên cứu một môn thuốc trước khi thuốc này được đưa ra thị trường cho người bệnh dùng.
Một liều thuốc Tây căn bản, thường chỉ bao gồm một hợp chất (hoặc cao lắm là vài hợp chất) trộn với chất bột không có tính thuốc. Sau khi thử trên loài vật có hệ thống sinh lý tương đối giống con người và đã xác định được hiệu quả của thuốc, người ta mới bắt đầu thử trên con người.

Ở giai đoạn thử trên con người này, hầu như luôn luôn người ta sử dụng phương pháp gọi là “double blinded study”. Xin đưa một thí dụ. Các bệnh nhân có cùng một căn bệnh, sẽ được chia làm 2 nhóm. Một nhóm sẽ được cho uống thuốc thật, và một nhóm được cho uống thuốc giả (placebo), tức là viên thuốc chỉ có chất bột mà không có hợp chất thuốc.
Bác sĩ cho thuốc cũng không hề biết viên thuốc mình cho bệnh nhân uống là thực hay giả, và tất nhiên bệnh nhân cũng không biết luôn. Do đó, người ta gọi là “double blinded”, cả hai, thầy lang và con bệnh, đều bị “bịt mắt”. Người biết ai uống thuốc thật, ai uống thuốc giả là những nhân viên hành chánh, chưa hề gặp mặt các bệnh nhân.

Sau một thời gian dùng thuốc, bệnh nhân được kiểm tra lại. Thí dụ như trong trường hợp thử nghiệm loại thuốc giảm áp huyết, người ta sẽ đo lại áp huyết của bệnh nhân, và so sánh với áp huyết trước khi dùng thuốc. Cùng lúc, người ta hỏi bệnh nhân về các phản ứng phụ, như buồn nôn, chóng mặt …, và đo đạc những thay đổi khách quan khác – như thử máu xem gan có bị “nóng” (bệnh) hay không, công năng thận ra sao … Sau đó người ta đưa sang thống kê để phân tích. Nếu trường hợp 99% người uống thuốc thật khỏi bệnh, còn chỉ có 1% người uống thuốc giả khỏi bệnh, thì ta có thể kết luận là thuốc này công hiệu.

Ngược lại, nếu chỉ có 5% người uống thuốc thật hết bệnh và có 4% người uống thuốc giả cũng khỏi bệnh, thì có thể ta cũng thấy được uống thuốc hay không cũng không khác gì nhau, tức là thuốc không nhiệu nghiệm. Nhưng thông thường, kết quả không rõ rệt như vậy, mà có thể là 563 / 1000 người dùng thuốc thật sẽ khỏi bệnh, 230 / 1000 người dùng thuốc giả hết bệnh.

Như vậy thì thuốc thật có công hiệu không?

Và thuốc giả thì sao, vì cũng có người hết bệnh đó mà.
Ðến đây, vai trò của toán thống kê vô cùng quan trọng. Toán thống kê cuối cùng sẽ cho ta một kết luận, kết luận rằng có thể nào vì “rùa” (tình cờ) mà có nhiều người uống thuốc thật khỏi bệnh hơn người uống thuốc giả không. (chỉ số dùng để kết luận này được gọi là “p value”, và nếu nó nhỏ hơn 0.05 thì kể như không thể nào thuốc thật “chó ngáp phải ruồi” được).

Song song đó, người ta cũng phải bảo đảm những bệnh nhân tham gia cuộc thử thuốc không có những bệnh khác, hoặc không có uống những thuốc khác. Sở dĩ người ta phải so sánh người uống thuốc thật và thuốc giả là để loại đi vai trò của tâm lý ảnh hưởng lên người bệnh (hiệu ứng tâm lý này rất quan trọng, gọi là placebo effect), vì nhiều người chỉ nhờ tin tưởng mà hết bệnh, nhất là đối với những chứng bệnh mà ta không thể đo lường một cách khách quan được, thí dụ như bệnh nhức đầu. (Nhức, đau, ngứa là những triệu chứng vô cùng chủ quan, chỉ có bản thân bệnh nhân mới định lượng được thôi).

Và, sở dĩ người ta chú ý đến những yếu tố khác của bệnh nhân là vì những yếu tố này có thể ảnh hưởng đến căn bệnh. Thí dụ: một người nghĩ rằng vì nhờ uống hà thủ ô mà tóc trở nên đen, nhưng không chừng trong thời gian đó, người này ăn nhiều rau giấp cá, mà chính rau giấp cá mới có tác dụng làm đen tóc thì sao (chỉ thí dụ như vậy mà thôi).
Chắc chúng ta không biết được trong 1000 người uống hà thủ ô thì có bao nhiêu người tóc bạc trở thành đen (e rằng không có đến 1 người, nhờ vậy mà thuốc nhuộm tóc vẫn bán chay re re).

Kính thưa quý vị, đó là quá trình thử nghiệm và thực nghiệm của Tây y, mà theo chúng tôi, y học cổ truyền của chúng ta không có. Y học cổ truyền dựa trên kinh nghiệm tích lũy, nhưng không có thống kê rõ ràng.

Chúng tôi được biết có rất nhiều bệnh nhân tin rằng uống thuốc Bắc sẽ khỏi một số bệnh nan y, tốn tiền rất nhiều, nhưng cuối cùng trong một ngàn người dùng thuốc này có bao nhiêu người khỏi bệnh và bao nhều người … quy tiên, ta cũng không biết. Một số người do nhìn thấy một vài trường hợp cá biệt rồi khái quát hóa, cho rằng liều thuốc đông y ấy có hiệu nghiệm trên mọi người. Có lẽ là vì Ðông y thiếu thực nghiệm và thống kê.

Thứ đến, rất nhiều bệnh nhân than phiền về phản ứng phụ của Tây y.

Kính thưa quý vị, trong khi một viên thuốc Tây chỉ có một hay hai hợp chất, thì một khúc rễ cây, một túi mật, có hàng chục đến hàng trăm hợp chất trong đó. Như vậy thì “phản ứng không mong muốn” (unwanted effects) ắt phải nhiều hơn rất nhiều. Một viên morphine chỉ chứa có chất morphine mà thôi, trong khi đó nếu ăn một cây á phiện thì ta cho vào cơ thể biết bao nhiêu tạp chất khác. Vấn đề nằm ở hai chữ: LIỀU LƯỢNG.

Kính thưa quý vị, chắc chắn một số thuốc Ta, thuốc Bắc, thuốc Nam cũng có hiệu lực, nên mới lưu truyền cả ngàn năm, nhưng sự nghiên cứu của những loại thuốc này thực thua kém thuốc Tây rất xa. Nói đến thuốc Bắc thuốc Nam thì chắc có lẽ vua Càn Long, Tần Thủy Hoàng, các đại quan, phú hộ của Tàu là người uống nhiều nhất, cũng được toàn các danh y, Hoa Ðà, Biển Thước chẩn trị. Nhưng kết quả các vị ấy ra sao, chết lúc bao nhiêu tuổi, có mạnh khỏe hơn tổng thống Bush hay không, ta cũng thấy rồi.

Các vị ngày xưa thường nói, nhân sinh thất thập cổ lai hy, bây giờ với Tây y thì nhân sinh thất thập mà “die”, thì là … hơi yểu mệnh đó. Ngày nay, có rất nhiều cô chú bác đã xấp xỉ thất thập, nhưng vẫn còn mạnh cuồi cuội, đi shop, đi du lịch, đi biểu tình rần rần, so với các vị quan lớn, vua chúa ngày xưa thì khỏe và thọ hơn nhiều, dù không uống sâm nhung, dù không dùng cao hổ cốt, lộc nai, sừng tê giác.

Bài tâm tình về thuốc này không nhằm việc bài bác Ðông y, mà chỉ để chúng ta thấy được sự khác biệt trong nghiên cứu giữa Ðông và Tây y. Là một người theo ngành khoa học, nhìn đời qua cặp mắt thống kê, cá nhân của chúng tôi chỉ được thuyết phục khi nào thuốc Bắc, thuốc Nam, Ðông y, Trung Y, có những nghiên cứu tinh tế, chi tiết, với sự chứng minh của thống kê mà thôi.

Nhiều bệnh nhân khi gặp bác sĩ Tây y, thường hỏi thuốc này có những phản ứng phụ gì. Hầu như lúc nào BS cũng biết, nếu không biết thì mảnh giấy hướng dẫn trong hộp thuốc cũng có ghi. Quý vị vẫn có thể dùng thuốc Bắc, thuốc Nam, nhưng khi gặp các Ðông y sĩ, hay Trung y sĩ, nên hỏi xem thuốc ấy có tạo phản ứng phụ gì không? Ðiều này sẽ hữu ích cho hiểu biết và sức khỏe của chúng ta.
Bác Sĩ Nguyễn văn Hoàng (Hoàng Nguyên)

Tây Y theo quan niệm của Bác sỹ Y học cổ truyền (Đông Y)

Đông y và Tây y là 2 nghành học phát triển theo 2 hướng rất khác biệt. Không có ai có thể nói lên sự so sánh giữa 2 nghành học vĩ đại này mà chỉ “nghe lõm bõm về khái niệm âm dương ngũ hành, thổ sinh kim, thủy khắc hỏa”. Để trả lời những thắc mắc của anh, tôi xin phép được nói qua về 2 ngành học cao cả này và đặc biệt nói rõ hơn 1 chút về Đông y.

Y học hiện đại (YHHĐ) kết hợp với khoa học kỹ thuật tân tiến đã có những bước tiến rất dài trong kỹ thuật ngoại khoa. Các loại máy có thể chụp hình các chỗ bị bệnh 3 chiều, chụp mặt cắt để giúp các bác sỹ phẫu thuật chuẩn bị ca mổ 1 cách hoàn thiện. Dụng cụ phẫu thuật cũng rất tinh vi, có thể mổ bằng tia laser, bằng các dụng cụ đặc chế để cắt bỏ phần bị bệnh mà ít gây tổn hại tới các cơ phận khác.

Lấy bệnh ung thư làm ví dụ, tế bào ung thư được nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và nhiều loại thuốc mới có thể giúp diệt tế bào ung thư. Sự tiến bộ vượt bậc về khoa học kỹ thuật đã giúp rất nhiều bệnh nhân ung thư kéo dài được sự sống. Tôi ra vào bệnh viện để giúp đỡ các bệnh nhân khá thường xuyên nên tôi biết rất rõ các điều này đặc biệt là y học hiện đại tại Hoa Kỳ phát triển rất rực rỡ. Có những loại thuốc và kỹ thuật tân tiến rất mới, được sử dụng tại bệnh viện Johns Hopkins mà chưa được công bố ra ngoài. Ngành Tây y tại VN và kể cả Úc tôi nghĩ còn đi sau khá xa vì tôi có người nhà là bác sỹ bên Úc và đã có nhiều ca đặc biệt, bệnh nhân đã được đưa qua Hoa Kỳ để điều trị.

Tuy YHHĐ phát triển rực rõ như vậy nhưng trong điều trị YHHĐ chỉ chú trọng tới cục bộ. Các bác sỹ phẫu thuật chỉ chú trọng tới chỗ bị bệnh, các loại máy móc hỗ trợ cũng tập trung vào bệnh, các loại thuốc được nghiên cứu và phát minh ra cũng tập trung vào chỗ bị bệnh. YHHĐ chia ra chuyên khoa, mỗi khoa đều tập trung cao độ vào loại bệnh của khoa của mình, tới cả từng tế bào, từng loại vi trùng. Sự tập trung cục bộ này khiến cho YHHĐ chỉ chú trọng vào bệnh thay vì người bệnh. Thuốc Tây có tác dụng tích cực tới chỗ bị bệnh mà thiếu đi phần chữa trị tổng thể cho người bệnh, đó cũng là lý do thuốc Tây để lại nhiều phản ứng phụ. Trong quá trình nghiên cứu 1 loại thuốc chữa bệnh, các nguyên nhân gây bệnh, thông tin về người bệnh đều bị bỏ qua.

Cơ thể chúng ta là 1 khối thống nhất, sự hoạt động của mỗi bộ phận đều liên quan đến toàn bộ cơ thể. Một khối u ung thư không phải tự nhên nó mọc lên mà phải qua 1 quá trình ủ bệnh lâu dài mới phát triển thành. Nếu cắt bỏ khối u mà không điều chỉnh lại sự suy yếu của toàn bộ cơ thể thì sớm muộn nhiều khối u mới lại mọc lên.

Đông y chú trọng vào người bệnh hơn là chỗ bị bệnh. Việc ăn, uống, ngủ, nghỉ, gia cảnh, sinh hoạt hàng ngày, môi trường sinh sống đều là yếu tố quan trọng trong việc điều trị vì các yếu tố này gây nên sự mất cân bằng của nội tạng, làm cho chính khí suy yếu, sức chống lại bệnh tật suy giảm, lâu ngày mới phát triển thành bệnh. Người thầy thuốc Đông y luôn có sự cảm thông, chia xẻ với người bệnh, nên Đông y qua tình trạng tổng thể của bệnh nhân có thể biết trước được bệnh gì sẽ xảy ra trong tương lai, và ngược lại với tình trạng bệnh hiện tại có thể biết được yếu tố nào gây ra bệnh trong quá khứ để chữa trị và hướng dẫn bệnh nhân cách phòng bệnh. Vì vậy Đông y trị bệnh từ khi chưa bệnh, khi đã bệnh thì trị tận gốc. Đông y không chỉ trị bệnh mà chính là thuật dưỡng sinh. Một người am hiểu Đông y không bao giờ để cơ thể bị bệnh quá nặng rồi mới chữa.

Đông y có đặc điểm là dùng biện chứng luận trị, tức là dùng tứ chẩn để xem xét rồi lập ra biện chứng, sau đó căn cứ biện chứng đó để lập phương thuốc điều trị. Phần biện chứng luận trị dựa trên âm dương, ngũ hành, hệ kinh mạch, huyệt đạo mà đây chỉ là lý thuyết và hoàn toàn vô hình. Vì không thấy được nên Đông y phải dùng tượng hình để mô tả phần biện chứng. Ví dụ như phần xem mạch chúng ta thường thấy có những mô tả như “mạch đến thì vội vã, lúc đi thì khoan thai”, “bềnh bồng như cọng rơm trên mặt nước”, “trống rỗng như ấn vào cọng hành”, “nặng và trầm nhưng tảng đã dưới đáy nước”, v.v. Người thầy thuốc trong lúc chuẩn đoán sẽ “thấy” được những hình tượng này rồi từ đó có cảm nhận được âm dương, khí lực, tà khí (yếu tố gây bệnh) vận hành 1 cách vô hình trong cái tiểu vũ trụ (cơ thể người bệnh). Sự cảm nhận này cần phải học hỏi, nghiên cứu, nghiền ngẫm và luyện tập nhiều năm mới đạt tới trình độ cao, đó chính là kinh nghiệm lâm sàng. Mà muốn đạt tới mức tinh xảo thì tuyệt đối không thể dùng máy móc để hỗ trợ vì máy móc sẽ cản trở sự cảm nhận của người thầy thuốc với người bệnh. Đó cũng chính là cái ý của câu nói “Đông y càng cổ càng tinh”. Càng hiểu biết về hiện đại thì học Đông y càng khó. Lý thuyết của Đông Y rất ngắn gọn nhưng cái tinh xảo là ở sự biến hóa “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, cho dù là bệnh tật thiên biến vạn hóa đều luôn có biện pháp ứng phó. Cơ thể người bệnh là 1 chỉnh thể hữu cơ, không thể phân chia ra chữa 1 chỗ này mà không làm ảnh hưởng tới chỗ khác. Cho nên Đông y là toàn khoa chứ không cần chia ra chuyên khoa và 1 người thầy thuốc Đông y phải kiêm luôn cả dược (còn khó hơn phần lý thuyết và chuẩn đoán nhiều lần). Và 1 vị lương y Đông y có kinh nghiệm lâm sàng cao, tuyệt đối không bao giờ ra toa mà để lại phản ứng phụ cho bệnh nhân sau điều trị.

Có nhiều bệnh nhân trên diễn đàn nói “tôi đã điều trị Tây y nhiều năm nhưng không khỏi, sau đó chuyển qua Đông y nhưng cũng không thấy biến chuyển”. Thật vậy, Đông Y cũng có những trường hợp không trị được bệnh (như ca bệnh gan mà anh gặp) nhưng phần nhiều không phải là do Đông Y không chữa được mà do y thuật của thầy thuốc không tinh, thứ nữa là do chất lượng vị thuốc quá kém (đó là trường hợp thị trường thuốc ở VN). Đương nhiên ở đây còn một nguyên nhân quan trọng nữa đó là tính chất trừu tượng của việc biện chứng trong Đông Y. Phương pháp chẩn bệnh của Đông y rất khó chuẩn xác bởi nó không lượng hóa được các tính chất của bệnh tật, điều này cũng khiến cho không ít người mới tìm hiểu Đông Y cảm thấy rất khó khăn và thường có ý nghĩ muốn dùng máy móc hỗ trợ để làm cho việc học Đông y được dễ dàng hơn. Nhưng máy móc chỉ giúp được những ca bệnh dễ, những ca phức tạp thì máy chắc chắn sẽ chuẩn đoán sai, người học nghành Đông y nếu dùng máy móc sẽ bị mất đi sự cảm nhận về chính khí và tà khí trong cơ thể bệnh nhân. Ca dễ nếu không thực tập chuẩn bệnh bằng biện chứng thì ca khó lại càng chữa sai. Cho nên nói Đông y dễ học mà rất khó giỏi. Người học Đông y còn thấy khó như vậy, nếu chỉ “nghe lõm bõm về khái niệm âm dương ngũ hành, thổ sinh kim, thủy khắc hỏa” thì chắc chắn là không thể nào hiểu nổi.

Các danh y của VN như Tuệ Tĩnh Thiền Sư, Hải Thượng Lãn Ông, Nguyễn Đình Chiểu, v.v. đã để lại những thành tựu về Đông Y học khiến cho người VN chúng ta thấy hãnh diện. Gần đây hơn thì có Đỗ Tất Lợi đã để lại những tác phẩm nghiên cứu về y dược của Đông y và được bằng khen của bộ y tế. Anh đề cập tới các đại danh y thời cổ như Hoa Đà, Biển Thước thì gần như không có quốc gia nào trên thế giới mà không có tài liệu nói đến những đại danh y này bằng ngôn ngữ của mình. Còn anh hỏi tại sao các vua chúa thời xưa, các đại phú hộ lại không mấy người sống quá 50. Câu hỏi này của anh rất hay vì trong lịch sử Đông Y câu hỏi này đã được trả lời từ hơn 2500 năm trước, hầu như những người học y không ai là không biết.

Hoàng Đế Nội Kinh (Huangdi Neijing – 黃帝內經) (khoảng 475 TCN – 221 TCN) chương Thượng Cổ Thiên Chân Luận có đoạn:
Hoàng đế hỏi Thiên Sư Kỳ Bá “Ta nghe rằng người thời thượng cổ tuổi tác có đến trăm tuổi mà động tác vẫn không suy yếu, người thời nay tuổi mới nửa trăm mà động tác đều suy yếu. Đó là vì thời thế khác nhau ư? Hay là con người sắp mất đi sự hòa điệu Âm Dương?”
Kỳ Bá đáp “Người thời thượng cổ đều biết đạo dưỡng, họ bắt chước theo lẽ (biến hóa) của Âm Dương, hòa hợp được với thuật luyện tinh khí, Ăn uống có điều độ, thức ngủ theo lẽ thường, không lao động mệt nhọc 1 cách cẩu thả, do đó hình thể và thần khí của họ đầy đủ để có thể sống trọn tuổi trời, trăm tuổi mới chết. Người thời nay thời không thế, họ lấy rượu làm thứ uống, lấy sự cẩu thả làm lẽ thường, say sưa rồi giao hợp, lấy sắc dục làm cho tinh khí bị hao kiệt, hao tổn đến chân khí, họ không biết giữ vững cái chén đầy, không theo đúng sự thay đổi khí tiết bốn mùa để bảo dưỡng tinh thần, họ chỉ muốn làm cho khoái cái tâm, làm nghịch lại cái vui chân thực, họ thức ngủ không điều độ, do đó mà tuổi mới nửa trăm thời đã suy yếu vậy.”

Cả hơn 2500 năm trước Đông y đã khẳng định rằng lối sống vô độ, cẩu thả đã gây ra bệnh tật và làm giảm tuổi thọ của con người. Điều đó cả y học hiện đại ngày nay vẫn phải công nhận như vậy. Sách Nội Kinh Tố Vấn đã được dịch ra hơn 50 thứ tiếng và hầu như không có quốc gia nào có nền y học tân tiến mà không nghiên cứu cả.

Trở lại câu hỏi của anh về các danh y như Hoa Đà, Biển Thước thì lại càng cho thấy tầm nhìn của anh về Đông y rất hạn hẹp. Hoa Đà là người đã chế ra thuốc gây mê đầu tiên trên thế giới và là người đã sử dụng phẫu thuật trong điều trị đầu tiên trong lịch sử y học của nhân loại. Còn về danh y Biển Thước thì dưới đây là 1 đoạn nói về danh y Biển Thước được ghi nhận trong sách sử của Tư Mã Thiên:

Một hôm Biển Thước sang nước Tề gặp Tề Hoàn công, thấy khí sắc vua Tề không tốt, bèn tâu: “Quân hầu, trong da và chân lông ngài đã có gốc bệnh, nếu không kịp thời chữa trị, bệnh sẽ nặng thêm”. Tề Hoàn Công thờ ơ đáp: “Ta cảm thấy trong người rất khỏe, chẳng có bệnh tật gì cả”. Biển Thước lui ra, sau đó năm ngày lại vào yết kiến, nhìn sắc diện rồi khẳng định một lần nữa với vua Tề: “Bệnh của ngài đã vào đến nội tạng rồi, phải chữa ngay đi”. Hoàn công tỏ vẻ khó chịu, không trả lời. Sau khi Biển Thước đi khỏi, ông mới bảo với mọi người: “Thầy thuốc chỉ khéo vẽ vời, hù dọa người ta. Ta chẳng có bệnh gì mà ông ta dám bảo là bệnh nặng. Thật vớ vẩn!” Năm ngày sau nữa, Biển Thước lại vào yết kiến, chỉ mới nhìn mặt vua Tề, đã quay bước, bỏ đi thẳng. Hoàn công sai người chạy theo hỏi, Biển Thước nói: “Bệnh ở da, thịt thì còn xoa thuốc được, bệnh ở huyết mạch thì còn uống thuốc được, nay bệnh đã vào đến cốt tủy rồi thì không cứu được nữa, bởi vậy tôi mới bỏ đi”. Mấy ngày sau quả nhiên Hoàn công phát bệnh. Ông vội cho người đi tìm Biển Thước, nhưng vị “thần y” đã đi sang nước Tần rồi. Bệnh của Tề Hoàn công ngày càng trở nặng, các thái y đều bó tay, chẳng bao lâu thì nhà vua tạ thế.

Danh y Biển Thước là người đã đề ra phương pháp chuẩn bệnh bằng tứ chẩn (vọng, văn, vấn, thiết) và ông đã dùng Vọng, Văn, Vấn mà có thể chuẩn bệnh được tới mức xuất sắc như vậy thì tôi cho rằng với các công nghệ tân tiến như hiện nay cũng chưa thấy ai làm được.

Đông y thời cổ đại đã đạt tới đỉnh cao như vậy, tới cận đại lại xuất hiện những đại danh y như Chu Đan Khê, Tôn Tư Mạo, Lý Sỹ Tài, Lưu Hà Gian, Trương Tử Hòa, Lý Đông Viên, Lý Thời Trân, Trương Cảnh Nhạc, Phó Thanh Chủ, v.v. đã cập nhật lại các y thư thời cổ và để lại cho nhân loại những kiệt tác về y học quý giá như Tỳ Vị Luận, Cảnh Nhạc Toàn Thư, Bản Thảo Cương Mục (với 1892 loại dược vật), v.v.. Các bộ sách y học quý giá này hầu như không có quốc gia nào mà không có bản dịch ra ngôn ngữ của họ. Tại Hoa Kỳ, Viện Nghiên Cứu Về Y Tế Quốc Gia (NIH) cũng đã nghiên cứu và phân chất các vị thuốc của Đông y trong Bản Thảo Cương Mục và công bố các kết quả này cho toàn thể cộng đồng. Nhiều trường đại học y ở Hoa Kỳ cũng có chương trình đào tạo bác sỹ YHCT. Các tác phẩm Đông y bằng Anh ngữ do các danh y YHCT người Âu Mỹ như Bob Flaws, Giovanni Maciocia, Andrew Ellis, Volker Scheid, Dan Bensky, Leon Hammer M.D., v.v. được đánh giá rất cao và được các trường đại học yhct ở các nước Âu Mỹ và cả Á châu như Đại Hàn, Nhật Bản, Trung Quốc sử dụng trong giảng dạy. Tại Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên các bệnh viện lớn đều sử dụng cả Tây Y và Đông Y trong điều trị.

Trên lâm sàng và cả trên diễn đàn này, tôi và các lương y đã chữa trị cho nhiều bệnh nan y, những ca vô sinh đã nhiều năm chữa trị bằng Tây y vô hiệu quả và đã đem lại hạnh phúc cho bệnh nhân cũng như gia đình họ rất nhiều. Những ca bệnh đã bị bệnh viện chê, bác sỹ Tây y phán là phải sống với bệnh suốt đời, những ca này đã được chữa trị khỏi hoàn toàn bằng Đông y không hề thiếu. Thực tế không có ai chữa trị bằng Đông y mà chưa thử chữa trị bằng Tây y cả. Những ca bệnh do bệnh viện thải ra, bác sỹ Tây y lắc đầu, nếu anh có khả năng thì xin anh cứ tự nhiên nhận về để chữa trị.

Nền y học thế giới đang kết hợp những tinh hoa của cả Đông y và Tây y trong điều trị ngày càng nhiều hơn, nâng cao sức khỏe và tuổi thọ chung cho cả nhân loại thì tôi nghĩ những thắc mắc của anh về những thành tựu của Đông y có lẽ do anh chỉ chuyên tâm nghiên cứu 1 phía.

Những thành tựu y học vượt bậc của Tây y về ngoại khoa là thế mạnh của YHHĐ. Có nhiều trường hợp tôi đã giới thiệu bệnh nhân đi bệnh viện để xử lý bằng ngoại khoa rồi sau đó mới tiếp tục điều trị bằng Đông y. Biết được những ưu điểm của mỗi nghành để có thể áp dụng hầu đem lại hiệu quả cao nhất trong điều trị là mục đích chung của y học của cả nhân loại. Tôi thiết nghĩ đó mới là mục đích cao cả của người học y.

PhoHVB – yhoccotruyen.org

Sự khác nhau giữa Đông y và Tây y
5 (100%) 4 votes